Hiển thị các bài đăng có nhãn kỳnam. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn kỳnam. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 24 tháng 8, 2010

Cây gió bầu

http://www.google.se/images?hl=sv&q=c%C3%A2y+gi%C3%B3+b%E1%BA%A7u&um=1&ie=UTF-8&source=univ&ei=fDp0TJ-RGo26OISelNYI&sa=X&oi=image_result_group&ct=title&resnum=4&ved=0CDUQsAQwAw

NGHIÊN CỨU TẠO TRẦM HƯƠNG NHÂN TẠO TỪ CÂY TRẦM HƯƠNG.

http://www.tramhuongvietnam.com/thongtinmoi15_NTT_01.php

Tác giả: Thái Thành Lượm


* * *
- Cây trầm hương là một loài cây quý hiếm cần được bảo vệ và phát triển, loài cây này có khả năng sinh sản sinh ra được trầm hương có giá trị thương phẩm rất cao trên thị trường, cây có tên khoa học là Aquilaria Crassna, thuộc họ Trầm hương Thymeleaceae, bộ trầm hương Thymeleaceae. Do đặc điểm đó mà con người đã săn lùng để tìm kiếm hầu hết các vùng rừng tự nhiên hiện còn, kể cả những vùng núi cao hiểm trở cũng bị truy tìm vì có những giai đoạn thời giá 1kg trầm kỳ cao hơn 1 lượng vàng.
- Tuy nhiên, sự hình thành trầm kỳ trong tự nhiên là rất hiếm xảy ra, trong hàng ngàn cây trầm tự nhiên bị chặt bỏ, hoạ chăng 1 vài cây có trầm. Bởi đặc tính quý giá đó nên nhiều vùng đã được người dân gây trồng với hy vọng chờ đợi từ 10 – 15 năm khi cây già cỗi rũ xuống sẽ có trầm, song hy vọng đó hết sức mong manh. Theo phân loại trầm kỳ trên thế giới và trong nước những mẫu gỗ hình thành trầm kỳ có màu đen bóng, khối lượng lớn, dầy và tỉ trọng là 1.15 là trầm đạt được loại 1, và màu nâu bóng là loại chất lượng thấp hơn riêng màu nâu nhạt là trầm xô chất lượng thấp. Ngoài ra còn có những loại trầm màu đen nhưng chỉ kéo thành sợi gọi là trầm tóc.
- Để là sáng tỏ vấn đề trầm nhân tạo, chúng tôi tìm ra phương pháp tác động vào vết thương của cây trầm hươngvới nhiều phương thức theo những công thức khác nhau đã kết luận được việc tạo trầm nhân tạo trên cây này và nhựa trầm hình thành nhựa gỗ màu đen xậm tạo thành lõi trầm trong thân cây.
1/Phương pháp nghiên cứu:
a/Cơ sở lý luận:
- Trước hết là phải tạo được tế bào libe bên trong mạch gỗ, việc tạo vết thương này có thể dùng nhiều biện pháp như vật lý, hóa học, sinh học, nhưng với các nhân tố thông thường thì không hình thành được trầm, ví dụ như dùng dao, búa chặt hoặc khoan vào gỗ thì chỉ tạo ra vết nâu rất mỏng bao quanh vết thương.
- Sau khi tạo vết thương đặc biệt dùng meo nấm được nuôi trong môi trường dinh dưỡng cho phát triển tăng số lượng đủ lớn cấy vào vết thương đã chuẩn bị sẵn.
- Dùng chất xúc tác đưa vào meo nấm, môi trường xúc tác này phải là môi trường thích hợp không có ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của meo nấm, chức năng của nó là giúp cho meo nấm tiếp cận được với tế bào Libe trong mạch gỗ, giúp cho nấm và vi sinh dễ dàng mở rộngđịa bàn hoạt động của mình kích thích sự hình thành trầm trong một vùng lớn trong thân cây trầm.
b/.Phương pháp bố trí thí nghiệm:
Các chỉ tiêu đánh giá khả năng hình thành trầm:
+ Về vết thương tác động:
Khoan vào gỗ có kích thước D=9mm, diện tích vết thương 63,61mm2, các công thức thí nghiệm được tác động vào vết thương.
+ Về diện tích bị xâm nhiễm (tính bằng mm2).
Vùng có màu nâu và nhạt hơn màu nâu được điều tra bằng cách cắt dọc thân cây để vẽ mặt cắt và tính diện tích bị xâm nhiễm.
Với vùng có màu đen đây là chỉ tiêu có ý nghĩa hết sức quan trọng quyết định đến sự thành công hay thất bại trong việc cấy tạo trầm nhân tạo trong thân cây trầm hương, nó cũng được tính bằng phương pháp điều tra cắt dọc thân cây ở vị trí tác động cấy các công thức nấm.
+ Về chất lượng hình thành trầm:
Trong các công thức, tuỳ theo loại màu tích tụ mà chia thành sáu cấp màu khác nhau mỗi cấp màu biểu thị tính chất, chất lượng hình thành trầm trong thân cây:
Màu: Trắng, trắng tro, nâu nhạt, nâu sậm, đen nhạt, đen xậm, ứng với: 0,1,2,3,4,5.
Các công thức thí nghiệm:
Công thức 1: Tác động vết thương, không cấy meo nấm (đối chứng).
Công thức 2: Môi trường xúc tác.
Công thức 3: Môi trường dinh dưỡng.
Công thức 4: Meo nấm.
Công thức 5: Meo nấm có môi trường dinh dưỡng.
Công thức 6: Meo nấm có môi trường xúc tác.
Bố trí thí nghiệm theo khối ngẫu nhiên đầy đủ với 6 lần lặp lại, mỗi khối bối trí trên 1 cây, mỗi cây được thay đổi vị trí sao cho mỗi công thức có mặt ở hai đầu của cây.
2/Kết quả thí nghiệm:
a/Kết quả về vùng xâm nhiễm trên các công thức:
Vùng bị xâm nhiễm từ vàng đến nâu (đơn vị mm2)
(CT1: Công thức 1)
Tính chất màu CT1 CT2 CT3 CT4 CT5 CT6
Vàng đến nâu 610 857 80 790 475 755
Test F.pr = 0,009* < 0,05 sự khác biệt có ý nghĩa.
Các công thức có sự xâm nhiễm từ vàng đến nâu, cao nhất là 1.675 mm2 gấp 26 lần diện tích vết thương, thấp nhất là 0 mm2. trung bình thí nghiệm 580 mm2 gấp 9 lần diện tích vết thương.
Vùng xâm nhiễm từ đen nhạt đến đen xậm (đơn vị mm2)
Tính chất màu CT1 CT2 CT3 CT4 CT5 CT6
Đen đến đen xậm 0 310 355 0 420 455
Test F.pr < 0,001** < 0,05 sự khác biệt là rất có ý nghĩa.
Các công thức bị xâm nhiễm từ đen đến đen xậm cao nhất là 725 mm2 gấp 11 lần diện tích vết thương, trung bình là 220 mm2 gấp 3 lần diện tích vết thương, nhỏ nhất 0mm2.
Nhận xét:
Trầm kỳ là sản phẩm do hàng loạt tế bào gỗ thoái hóa mất chất gỗ biến thành và những tế bào đó tụ nhựa trầm hương mà thành phần hóa học của chúng là Benzylaxeton (C6H5CH2COOH) và các dẫn xuất của nhân Benzen, thường có màu đen bóng, đen xỉn hoặc màu vàng cánh dán nặng hơn gỗ, chìm trong nước, khi đốt nhựa rỉ ra, sôi lăn tăn và toả hương thơm ngào ngạt.
Qua thí nghiệm có thể nhận xét như sau:
- Nếu chỉ tạo vết thương đơn thuần chỉ tích tụ một vết màu nâu nhạt bao quanh vết thương vết sẹo có hình tròn hoặc hình elip vùng bị xâm nhiễm là 875 mm2 gấp 14 lần vết thương, trung bình 610 mm2, nhỏ nhất 450 mm2 gấp 7 lần vết thương.
- Cho chất xúc tác tiếp xúc trực tiếp vào bề mặt mạch gỗ thì vùng xâm nhiễm có màu nâu xậm, có nơi vùng cao nhất là 1.250 mm2 gấp 20 lần vết thương, trung bình là 857 mm2, thấp nhất là 475 mm2 gấp 7 lần vết thương với kểu tác động này thường tạo vết thương thành 2 vòng, một vòng màu nâu bao vòng bên ngoài và có vết tụ màu tro ở trung tâm.
- Chỉ tác động môi trường dinh dưỡng vào vết thương đều có vết tụ màu đen, một vài điểm cũng có vết tụ màu nâu bao quanh vết tụ lớn nhất là 575 mm2 gấp 9 lần vết thương, bình quân là 420 mm2 thấp nhất là 312 mm2 gấp 5 lần vết thương.
- Cấy meo nấm vào vết thương không có môi trường dinh dưỡng và môi trường xúc tác chỉ hình thành vết tụ màu nâu bao quanh vết thương vết tụ lớn nhất là 1275 mm2 gấp 20 lần vết thương, vết tụ trung bình 790 mm2 vết tụ thấp nhất là 350 mm2 gấp 5,5 lần vết thương.
- Nuôi meo nấm trong môi trường dinh dưỡng và cấy vào vết thương thì hình thành 2 vòng vết tụ, 1 vòng vết tụ có màu đen bóng, 1 vòng vết tụ có màu nâu bóng, vết tụ màu đen lớn nhất là 625 mm2 gấp 10 lần vết thương,trung bình là 443 mm2, thấp nhất là 275 mm2, vết tụ màu nâu bóng có diện tích lớn nhất là 725 mm2 gấp 11 lần vết thương trung bình là 475 mm2, thấp nhất là 275 mm2 gấp 4 lần vết thương.
- Phối hợp meo nấm với chất xúc tác cấy vào vết thương tạo 2 vòng kết tụ một vết tụ màu đen nhạt bên trong và một vết tụ màu nâu xậm bao quanh vết tụ màu đen có diện tích lớn nhất là 725 mm2 gấp 11 lần vết thương, bình quân 586 mm2, thấp nhất 400 mm2, còn vết tụ màu nâu có diện tích lớn nhất là 1675 mm2 gấp 26 lần vết thương, bình quân 943 mm2, nhỏ nhất 450 mm2 gấp 7 lần vết thương.
b/Tính chất hình thành chất lượng của các công thức (0.1.2.3.4.5)

Chất lượng hình thành CT1 CT2 CT3 CT4 CT5 CT6
Test F.pr=0.021<0.05 2.9 3.2 4.2 3 4.8 3.5
F.pr=0.021 sự khác biệt có ý nghĩa.
Chất lượng của các nghiệm thức có vị trí xâm nhiễm thấp nhất là 1.5 và cao nhất là 5 trong thí nghiệm.
Nhận xét:
- Chỉ tác động vết thương đơn thuần hoặc chỉ cấy meo nấm vào vết thương chỉ kích thích vết thương từ vàng đến nâu.
- Dùng chất xúc tác hoặc môi trường dinh dưỡng tác động vào vết thương thu được vết tụ màu đen bao quanh.
- Nuôi meo nấm với môi trường dinh dưỡng hoặc chất xúc tác khi tác động vào vết thương có thể thu được vết tụ màu đen, kích thích tạo nhựa trầm trên các vết thương.
3/Kết luận:
Khi có tác động vết thương với những yếu tố tác động vết thương khác nhau, xung quanh vết thương sẽ tạo ra một vùng phản ứng nhựa tiết ra có màu vàng đến nâu, tuy nhiên màu sắc này thể hiện sự tích luỹ nhựa thấp.
Khi có môi trường dinh dưỡng và môi trường xúc tác xuất hiện trong meo nấm dinh dưỡng trước sẽ tác động vào tế libe trong mạch gỗ có màu đen bóng thể hiện sự tích tụ nhựa trầm trong các công thức này.
Tính chất hình thành trầm kỳ trên các nghiệm thức, trong đó chỉ có 2 công thức có giá trị là meo nấm có phối hợp với môi trường dinh dưỡng, meo nấm với môi trường xúc tác, đặc biệt ở meo nấm nuôi môi trường dinh dưỡng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng bằng tính chất màu 4,8/5 như vậy đủ chứng cứ để có thể kết luận là có thể gây tạo trầm kỳ bằng phương pháp nhân tạo trong thân cây trầm.


Nghiên cứu kỹ thuật gây tạo trầm hương trên thân cây gió bầu 4

http://www.tramhuongvietnam.com/thongtinmoi14_NHL_04.php
Biểu 4a.Quan hệ giữa sự hình thành trầm bằng sử dụng Lt theo cỡ tuổi của cây


Số TT

Thời gian tác động Lt vào cây

Sự hình thành trầm hương bằng Lt theo cấp tuổi

4 - 8 tuổi

10 - 14 tuổi

16 - 20 tuổi

Ghi chú

Số cây thí nghiệm

Số cây có trầm.

Số cây thí nghiệm

Số cây có trầm.

Số cây thí nghiệm

Số cây có trầm.

1

Sau 2 năm

30

6

20

5

16

3

Các thí nghiệm thực hiện năm 1992 đánh giá năm 1997.

2

Sau 3 năm

30

12

20

9

16

4

3

Sau 4 năm

30

12

20

9

16

8

4

Sau 5 năm

30

12

20

9

16

8





30

12

20

9

16

8


* * *
Biểu 4b. Quan hệ giữa sự hình thành trầm bằng sự dụng chế phẩm Lt theo cỡ tuổi cây (TN lặp lại)
Stt

Thời gian tác động Lt vào cây.

Sự hình thành trầm hương bằng Lt' theo cấp tuổi

4-8 tuổi

10-14 tuổi

16-20 tuổi

Ghi chú

Số cây thí nghiệm

Số cây có trầm

Số cây thí nghiệm

Số cây có trầm

Số cây thí nghiệm

Số cây có trầm

1

Sau 2 năm

30

7

14

3

17

3

Các thí nghiệm thực hiện năm 1996 đánh giá năm 2000

2

Sau 3 năm

30

13

14

7

17

7

3

Sau 4 năm

30

14

14

7

17

8

Nhìn vào các số liệu ở biểu 4a, 4b thấy rằng:
- Việc dùng chế phẩm sinh học Lt, để thử nghiệm gây tạo trầm hương trên thân cây dó trầm đạt được kết quả khá rõ.
- Ảnh hương đến chế phẩm sinh học Lt đến gây tạo trầm hương về số lượng cây giữa các cỡ tuổi: 4-8, 10-14, và 16-20 tuổi có tăng nhưng không nhiều. Như vậy bước đầu cho thấy ảnh hưởng của chế phẩm sinh học Lt không phụ thuộc lớn vào cây dó trầm.
- Tác động của chế phẩm Lt đối với sự hình thành trầm về số lượng cây tăng tỷ lệ thuận với thời gian, tuy nhiên sau 3-4 năm là ổn định về số cây hình thành trầm.
4.3 Kết quả dùng chế phẩm sinh học Lt vào gây tạo trầm hương ở rừng trồng tập trung và các cây trồng phân tán:
Đề tài đã dùng chế phẩm sinh học Lt tác động vào 143 cây dó trầm được trồng ở rừng tập trung và trầng phân tán trong các vườn hộ gia đình.
Kết quả liên quan đến nội dung nghiên cứu về nội dung trên chúng tôi tập hợp qua biểu 5.
Biểu 5. Quan hệ giữa chế phẩm Lt với sự hình thành trầm hương ở các cây dó trầm trồng tập trung và trồng phân tán.

Số TT

Thời gian tác động Lt

Cây dó trầm trồng tập trung

Cây dó trầm trồng phân tán

Ghi chú

Số cây thí nghiệm

Số cây có trầm

Tỷ lệ %

Số cây thí nghiệm

Số cây có trầm

Tỷ lệ %

1

Sau 2 năm

90

16

17,8

53

11

20,8

Đất feralit nâu vàng phát triển trên sa phiến thạch

2

Sau 3 năm

90

41

45,6

53

25

47,2

3

Sau 4 năm

90

43

47,8

53

27

50,9

4

Sau 5 năm

90

43

47,8

53

27

50,9

(Các thí nghiệm trên được thực hiện tại lâm trường Chúc A và huyện Hương Khê tỉnh Hà Tĩnh)
Nhìn vào số liệu thu được ở biểu 5 ta thấy rằng:
Tác động của chế phẩm Lt đến sự hình thành trầm hương đối với số lượng cây dó trầm trồng theo 2 phương thức trồng tập trung và trông phân tán tương đối giống nhau. Điều đó chứng tỏ rằng việc dùng chế phẩm sinh học Lt để gây tạo trầm hương ở cây dó trầm trồng phân tán hay trồng tập trung bước đầu đều có triển vọng ngang nhau.

Xem tiếp

Nghiên cứu kỹ thuật gây tạo trầm hương trên thân cây gió bầu 3.

http://www.tramhuongvietnam.com/thongtinmoi14_NHL_03.php
Nhìn vào kết quả biểu 1 và 2a, 2b ta thấy rằng:
- Trong tự nhiên số cây dó trầm và sản lượng trầm khai thác được tương quan tỷ lệ thuận với cỡ đường kính cây dó trầm. Thường cỡ kính cây càng lớn thì số lượng cây có trầm và sản lượng trầm khai thác được càng cao và ngược lại.
- Sự hình thành trầm hương trong tự nhiên có quan hệ với loại đất, đá mẹ nơi cây dó trầm sinh trưởng, phát triển. Các loại đất feralit nâu vàng phát triển trên phiến thạch, sa thạch số cây có trầm và mức độ hình thành trầm đạt tiêu chuẩn thương mại cao hơn số cây phân bố trên loại đất feralit nâu đỏ phát triển trên đất mẹ Granit.
- Quá trình hình thành trầm hương trong tự nhiên, ở trên thân cây gỗ cây dó trầm có liên quan đến nhân tố lập địa: Đá mẹ, tỷ lệ đá lẫn trong đất nhiều thì sản lượng trầm hương khai thác được lớn, chất lượng cao và ngược lại.

3.Kết quả gây tạo trầm hương bằng tác động cơ giới:
Đề tài đã thực hiện tác động gây chấn thương cơ giới vào 54 cây dó trầm, từ 6 - 18 tuổi ở trong vườn hộ gia đình. Phương pháp thí nghiệm là đục sâu vào thân cây theo các vị trí khác nhau (gốc, giữa đọan thân từ gốc đến chiều cao dới cành và vị trí tỉa cành tự nhiên ) hoặc chặt vát vào gốc thân cây dó trầm theo hình nêm, trong đó:
- 27 cây dó trầm: Chỉ tác động gây chấn thương cơ giới, sau đó không tác động gì bổ sung. Định kỳ 2 năm quan sát đánh giá kết quả thí nghiệm.
- 27 cây dó trầm: Tác động gây chấn thương cơ giới sau đó phun dung dịch Benlat, nồng độ 1% lên các vị trí đã tác động cơ giới (Dung dịch Benlat trên triển khai phun 3 lần định kỳ 2 tháng phun 1 lần thực hiện trong năm đầu) Định kỳ 2 năm quan sát đánh giá kết quả thí nghiệm.
Kết quả thí nghiệm được thống kê vào biểu 3.
Biểu 3. Quan hệ giữa hình thành trầm hương với tác động gây chấn thương cơ giới.

Stt

Nội dung

Số lượng (cây)

Kết quả tạo trầm

Vị trí hình dạng trầm hương

Sau 2 năm

Sau 4 năm

Sau 6 năm

Sau 8 năm

1

Phun dung dịch Benlat lên bề mặt các vị trí gây chấn thương cơ giới

27

0

0

0

0

0

2

Gây chấn thương cơ giới không tác dụng bổ sung (đối chứng)

27

0

2

2

2

Bao quanh chu vi chấn thương cơ giới


Qua các kết quả thí nghiệm này chúng tôi thấy rằng:
- Việc gây chấn thương cơ giới vào thân gỗ cây dó trầm và không tác động gì khác có quan hệ với sự hình thành trầm hương trong tự nhiên, qua thí nghiệm này số cây bị nhiễm trầm 3/27 chiếm tỷ lệ là 11,1%.
- Hình dạng và kích thước khối trầm hình thành ở các thí nghiệm trên, phụ thuộc vào kích thước và hình dạng vết thương cơ giới ban đầu.
- Việc phun thuốc phòng trừ bệnh lên bề mặt vết thương cơ giới không làm cho cây hình thành được trầm. Điều này cho thấy việc hình thành trầm hương trong tự nhiên có thể liên quan đến bệnh lý.
- Như vậy việc tác động cơ giới vào thân cây dó trầm là điều kiện để cho cây hình thành trầm hương.
4. Kết quả gây tạo trầm hương bằng sử dụng chế phẩm sinh học:
4.1.Phương pháp:
- Nghiên cứu phân lập và sản xuất bảo quản chế phẩm sinh học.
- Gây chấn thương cơ giới vào cây dó trầm ở các vị trí khác nhau gốc, thân cây, ở các vị trí cách mặt đất 0.8m,1.2m,1.5m bằng đục, khoan vào lỗi cây, sau đó cho chế phẩm sinh học vào các vị trí đã tác động gây chấn thương cơ giới. Định kỳ hằng năm theo dõi đánh giá kết quả thí nghiệm đạt được.
- Thăm dò kết quả sử dụng chế phẩm sinh học vào gây tạo trầm ở các cây dó trầm có cỡ tuổi khác nhau (1-8; 10-14; 16-20 tuổi).
- Thăm dò kết quả sử dụng chế phẩm sinh học vào gây tạo trầm ở các cây dó trầm ở rừng trồng tập trung và cây trồng phân tán.
Với những kết quả nghiên cứu đạt được chúng tôi chỉ giới thiệu kết quả gây tạo trầm hương bằng sử dụng chế phẩm sinh học Lt .
4.2 Kết quả sử dụng chế phẩm Lt vào gây tạo trầm theo cỡ tuổi của cây:
Thời gian qua đề tài đã thử nghiệm dùng chế phẩm sinh học Lt, tác động vào 60 cây dó trầm khác nhau, ở cỡ tuổi (4-8; 10-14; 16-20 tuổi). Các thí nghiệm trên triển khai có lặp lại.
Số liệu thu thập được liên quan đến mục tiêu nghiên cứu trên chúng tôi đã tập hợp vào biểu 4a, 4b.

Nghiên cứu kỹ thuật gây tạo trầm hương trên thân cây gió bầu 1

http://www.tramhuongvietnam.com/thongtinmoi14_NHL_01.php
Nghiên cứu kỹ thuật gây tạo trầm hương trên thân cây gió bầu (Aquilaria Crassna Pierre).
Tác giả: Nguyễn Hồng Lam
(Theo Mekong information)
***
I.Mở đầu
- Cây dó trầm hay còn gọi cây dó bầu, trầm hương hay trà hương có tên khoa học là Aquilaria Crassna Pirre. - Dó trầm là loài gỗ lớn thông xanh, tán thưa, thân thẳng, cao trung bình 15 đến 18 mét, đường kính trung bình ngang ngực 35 – 40 cm.
- Dó trầm thường phân bổ trong rừng nguyên sinh hoặc thứ sinh ở các nước: Việt Nam, Lào, Campuchia và phía nam Trung Quốc.
- Ở nước ta dó trầm phân bố tương đối rộng từ các tỉnh phía Bắc: Quảng Ninh, Bắc Giang , Hòa Bình, cho đến tận Kiên Giang, nhưng tập trung nhiều nhất ở các tỉnh Duyên hải miền Trung và Tây nguyên.
- Giá trị quan trọng nhất của cây dó trầm là để khai thác trầm hương. Trầm hương được hình thành trên thân cây dó trầm, do hàng loạt tế bào thóai hóa, trong vách và các mạch tế bào tích tụ bởi các hợp chất hũư cơ, chúng liên kết với nhau tạo ra khối trầm với hình dạng và kích thước khác nhau. Trầm hương thường có màu đen bóng và màu vàng cánh dán, khi đốt lên lửa keo nhựa chảy ra và hương thơm tỏa ra ngào ngạt.
- Trầm hương là mặt hàng kinh tế cao. Trên thế giới trầm hương được sử dụng để chưng cất tinh dầu trầm, một chất định hướng quan trọng trong ngành công nghiệp để sản xuất các loại mỹ phẩm cao cấp. Mặt khác việc đổt trầm hương là một tập quán không thể thiếu được trong các nhà thờ, cung điện hay các gia đình quý tộc ở các nước Hồi giáo. Ngoài ra trong y học trầm hương còn được sử dụng để chữa một số bệnh hiểm nghèo.
-Tuy trầm hương là mặt hàng có giá trị kinh tế cao, nhưng đến nay các công trình nghiên cứu khoa học về sự hình thành trầm hương còn hạn chế. Ở Việt Nam theo đơn đặt hàng của Bộ Lâm Nghiệp nay là Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn từ năm 1991 – 2000 Trung tâm nghiên cứu Lâm đặc sản (Viện Khoa Học và Lâm nghiệp Việt Nam) đã triển khai đề tài “ Nghiên cứu kỹ thuật gây tạo trầm hương trên thân cây dó trầm”. Qua một thời gian nghiên cứu bước đầu đề tài cũng đạt được một số kết quả nhất định.
II. Phương pháp và vật liệu nghiên cứu.
1.Sưu tầm, đánh giá và tổng kết các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến các nội dung mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
2. Điều tra, nghiên cứu sự phân bố trầm hương trên thân cây dó trầm tự nhiên: Phương pháp là thống kê sản lượng, chất lượng trầm hương khai thác được của mỗi cây ở các vị trí khác nhau: gốc, rễ, thân , cành,…Thông qua kết quả đạt được để đánh giá sự phân bổ của trầm hương trên thân cây trong tự nhiên.
3. Tìm hiểu, nghiên cứu mối quan hệ giữa sự hình thành trầm hương với các nhân tố: Cỡ đường kính của cây, loại đất, đá mẹ, tỷ lệ đá lẫn, độ dốc… Phương pháp là thống kê sản lượng, chất lượng trầm hương khai thác được của các cây dó trầm khác nhau liên quan đến các nội dung nghiên cứu trên. Từ đó đánh giá mối liên quan giữa sự hình thành trầm hương với cỡ kính của cây và các nhân tố lập địa khác.
4. Bố trí một số thí nghiệm tìm hiểu, nghiên cứu quá trình hình thành trầm hương bằng các phương pháp:
o Gây chấn thương cơ giới (Vật lý).
o Tác động bằng một số kích thích tố hóa học (hóa học).
o Tác động bằng một số chế phẩm sinh vật (sinh học).
Mỗi một công thức thí nghiệm tiến hành cả ba phương pháp trên được thực hiện trên một dung lượng mẫu (số cây) cần thiết. Đồng thời các thí nghiệm thăm dò nghiên cứu cũng được triễn khai theo các nội dung sau đây:
o Thí nghiệm nghiên cứu trên các độ tuổi của cây dó trầm khác nhau.
o Thí nghiệm trên các cây dó trầm có hoàn cảnh sống khác nhau (rừng trồng tập trung và cây trồng phân tán).
o Các loại hóa chất, chế phẩm sinh học được thí nghiệm thăm dò trên các nồng độ và liệu lượng khác nhau
o Thí nghiệm thăm dò trên các vị trí của thân cây (gốc, thân, cành...).
o Thông qua các thí nghiệm đã thực hiện để đánh giá kết quả về sự hình thành trầm hương.




Xem tiếp

Trầm Hương...Kỳ Nam.

http://www.rfviet.com/forum35/showthread.php?t=22193
DS Trần Việt Hưng

Vị thuốc với nhiều huyền thoại..
Trầm Hương và Kỳ Nam là những sản phẩm rất quý giá và hiếm hoi được xếp vào những bảo vật.. Việc tìm Trầm đã từng là những bí mật, với nhiều huyền thoại lạ lùng.. Trầm đã được xem là hiện thân của Thiên Y Thánh mẫu Poh Naga (Thiên Y Ana của người Chàm).. Đi tìm Trầm, còn được gọi là đi điệu, và phải tuân theo những nghi lễ cúng tế đặc biệt.. như cúng Thần Rừng , kiêng cử nhiều điều mới hy vọng tìm được trầm, khi tìm được Trầm còn phải cúng tế, tạ ơn v.v...và còn phải ngậm ngải để tránh thú dữ như cọp beo (!) Trầm đã được dùng làm lễ vật để cung hiến cho Trung Hoa trong những thời kỳ Bắc thuộc, dùng làm những tặng phẩm ngoại giao (nhất là trong Thế kỷ 17). Văn chương và Tôn giáo cũng nhắc nhở đến Trầm..Lý Bạch từng viết Trầm Hương Đình bắc ỷ lan can để nhớ đến Đình Trầm, là nơi mà Đường Minh Hoàng và Dương Quý Phi thưởng ngoạn hoa mẫu đơn, nghe nhạc.. (Vì Trung Hoa không có gỗ Trầm, nên chắc..gỗ dựng Đình phải từ Việt Nam ?). Cây bois d'aloes hay Aloe wood trong Thánh Kinh, cung cấp chất trầm hương để ướp xác Chúa Jesus chính là cây Trầm của vùng Đông Nam Á (một số dịch giả đã dịch sai thành cây Lư Hội, là một cây thuốc khác hẳn..)

Trầm hương, Aquilaria agallocha, thuộc họ thực vật Thymelacaceae, còn được gọi là cây Gió Bầu. Gió bầu mọc hoang trong những vùng rừng núi miền Trung Việt Nam, tại Thừa Thiên, Quảng Nam, Bình định, Phú Yên, Phan Rang, Phan Thiết ; và hiếm hơn tại An giang, Kiên giang..Vùng nổi tiếng nhất về Trầm là Vạn Giả, Tu Bông ( Mưa Đồng Cọ, gió Tu Bông) với những ngọn gió đưa hương Trầm về tận Khánh Hoà, Nha Trang..Tại Trung Hoa, Trầm Hương được lấy từ Aquilaria sinensis (Bạch mộc hương), mọc tại vùng Quảng Đông, Hải Nam, phẩm chất kém hơn Trầm của Việt Nam..Tại Ấn Độ, trầm hương được lấy từ một cây khác hẳn :Excoecaria agallocha thuộc họ Euphorbiacea (Xem phần dưới)

Gió bầu thuộc loại cây thân mộc, cao đến 30-40 m, đường kính thân cỡ 70-80 cm. Vỏ thân màu xám tro. Lá mọc so le, phiến lá mỏng, hình bầu dục thuôn ngọn nơi gốc 8-10 cm x 3-5 cm , mặt dưới lá màu nhạt hơn mặt trên, có lông. Hoa mọc thành cụm hình tán nơi nách lá, màu trắng xám. Quả thuộc loại nang chứa 1 hạt.

Tiến trình tạo Trầm Hương và Kỳ Nam :
Trầm hương được tạo thành trên thân Gió bầu qua một số điều kiện của môi sinh chưa được hoàn toàn hiểu rõ :
Có lý thuyết cho rằng phân chim rơi xuống, tụ lại tại những nạng ba nơi thân, nhánh lớn gây bệnh cho cây : cây tiết ra chất dầu, tụ lại để chống bệnh, và từ đó tạo ra trầm hương.
Lý thuyết cơ học cho rằng cây phản ứng lại những vết thương ở rễ, thân cành, do thợ rừng chặt, đẽo, bằng cách tiết ra chất nhựa quanh vết thương, qua hàng chục có khi hàng trăm năm, kết hợp với nắng mưa, sương gió..nhựa ngấm dần vào thân cây.. để tạo ta Trầm, Kỳ..

Lý thuyết có căn bản nhất cho rằng Gió bầu bị nhiễm loài nấm Cryptoshaerica mangifera, hủy hoại dần cấu tạo gỗ, quy tụ chất dầu, tạo thành nhựng túi dầu, để từ đó trở thành Trầm.. (Tuy nhiên, khi cấy nấm vào thân cây tươi lại chưa thể tạo ra..Trầm như dự tính!)
Những túi dầu tạo ra nơi thân Gió bầu có thể, tùy theo điều kiện thiên nhiên để trở thành Trầm hay đặc biệt hơn thành Kỳ Nam. Theo thời gian, dầu kết tụ càng ngày càng nhiều; cây gió có thể già và chết khô, thân mục dần và tự hủy, để lại những khúc Trầm hoặc những miếng Kỳ Nam..

Tên gọi của những loại Trầm cũng thay đổi :
Trầm mắt kiếng để gọi những khúc gỗ có lỗ và lởm chởm..
Tốc là tên gọi những khúc gỗ thơm do dầu bắt đầu quy tụ tạo thành những đốm : nếu đốm hình dạng như hoa thì gọi là Tốc hoa; đốm đen đều, như bồ hóng thì là Tốc lọ nghẹ.. rồi còn Tốc đá, Tốc hương v.v..
Kỳ nam cũng được phân hạng khác nhau tùy theo màu sắc khi cắt ngang miếng gỗ chứa dầu : Bạch kỳ nam, lõi cắt ngang màu mốc trắng ngà, mềm nhiều dầu được xem là quý nhất, rồi đến Thanh kỳ nam, màu xanh; Huỳnh kỳ nam vàng, cứng và Hắc kỳ nam, màu đen, cứng chắc..

Thành phần hóa học :
Thành phần chính là Tinh dầu (13%) trong đó có Benzylaceton (26%); Methoxy benzylaceton (53%); Alcohol terpenic (11%) và Cinnamic acid cùng các chất dẫn xuất., anisic acid.; Agarospirol, Agarol, Agarofuran, Agarotetrol, Nor-ketoagarofuran..
Tinh dầu trích từ Aquilaria sinensis còn có thêm những Sesquiterpinoid như Isobaimuxinol, những chất chuyển hóa loại 2-(2-phenylethyl) chromone.

Tác dụng Dược học :
Trầm, theo Y học Tây Phương, hầu như không có tác dụng dược học đáng kể và chỉ là nguyên liệu quý trong kỹ nghệ nước hoa, mùi hương.. làm nhang (hương) loại tốt dùng cúng tế. Tuy nhiên những nghiên cứu mới tại Nhật và Trung Hoa cũng tìm được vài dược tính đáng chú ý:

Tác dụng trên Hệ Thần kinh trung ương :
Nghiên cứu tại Viện Đông Y Hyogo (Nhật) so sánh các trích tinh Gỗ trầm bằng benzen, chloroform. Petroleum ether và nước cho thấy trích tinh bằng benzen có khả năng làm giảm hiệu ứng tạo cử động đột ngột ( hậu quả từ tác động kéo dài thời gian ngủ gây ra bởi hexobarbital); làm hạ nhiệt độ cơ thể, và ức chế được các phản ứng gây ra khi cho uống acetic acid nơi chuột thử nghiệm..Những tác dụng này được cho là do ở phản ứng gây đè nén Thần kinh trung ương (Planta Medica Feb-1993).

Tác dụng trên các Phản ứng dị ứng :
Nghiên cứu tại Đại học Dược Wonkwang (Iksan, Nam Hàn) ghi nhận trích tinh gỗ Trầm bằng nước có tác dụng giài trừ dị ứng khá mạnh : ức chế được các phản ứng dị ứng ngoài da, dị ứng tạo ra bởi hợp chất 48/80 và ức chế được sự bài tiết histamine từ các tế bào mast cell nơi màng phúc toan của chuột. (J.Ethnopharmacology Sep-1997).
3- Tác dụng Kháng u-bướu : Theo Journal of Natural Product (Sep 1981) các chất glycerid 1,3-dibehenyl-2-ferulul và 12-O-n-deca-2,4,6-trienol phorbo-1,3-acetate trong gỗ Gió bầu có tác dụng diệt được các tế bào bướu ung thư.

Khả năng kháng vi trùng:
Nước sắc trầm hương có khả năng ức chế rất mạnh sự tăng trưởng của các vi trùng Mycobacterium tuberculosis (Lao) và Shigella flexneri.

Trầm hương trong Đông dược :
Theo Đông Y cổ truyền trầm hương (Chen xiang; Nhật dược gọi là Jinko Đại Hàn là Chimhyang) có vị cay/chua, tính ấm và tác dụng vào các kinh mạch thuộc Thận, Tỳ và Vị. Trầm hương được ghi chép trong Minh Y Biệt Lục như một vị thuốc thượng đẳng.

Trầm hương có những tác dụng trị liệu :
Kích khởi sự chuyển động của Khí, và làm giảm đau nhức: khi Khí bị ứ tắc với những triệu chứng đau, căng tức, hay nặng ứ nơi vùng thượng vị và bụng dưới. Trầm hương rất hữu hiệu trong các trường hợp nhiễm Hàn do Suy và Ứ Huyết. Thường dùng phối hợp với Ô Dược (Wu-yao= Linderae Strychnifoliae) để trị đau và căng tức bụng dưới, tức ngực..

Hướng và dẫn Khí loạn về phần Hạ, đồng thời điều hòa phần Trung trong các trường hợp Khí loạn gây khò khè, tạo buồn nôn, tức bụng và nấc cụt vì hàn do suy Khí nơi Tỳ và Vị. Dùng phối hợp với Semen Raphani Sativi (Hạt cải củ = La bặc tử) , để trì khò khè do Khí nghịch gây ứ tắc nơi Phế hay do Thận suy không điều hòa được Phế khí. Dùng chung với Folium Perillae (Lá tía tô) để trị nấc cụt do lạnh bao tử hay lạnh do suy Tỳ, suy Vị.
Giúp Thận thu nạp Khí (năng liễm nạp Khí xuống, tăng sức vận hòa của Thận và Tỳ), bổ Thận khí : dùng trị Suyễn và khò khè do Thận suy.
Trầm hương được dùng trong các toa: Si mo Tang và Jie Zhen tang

Ghi chú :
Đông dược (nhất là tại Đài loan) và Dược học Ayurvedic cũng dùng một dược liệu khác Excoecaria agallocha thuộc Họ Thực vật Euphorbiaceae để thay thế cho trầm hương. Tại Việt Nam, cây được gọi là Cây Giá: đây là một cây trung bình thuộc loại bụi mọc tại cac vùng nước lợ, rừng ven biển, các bộ phận của cây đều chứa nhựa độc, có thể dùng để thuốc cá; tuy nhiên cây lớn có thân gỗ trắng, khi già đốt có mùi thơm trầm. Tại Ấn Độ, cây được gọi là Agaru, toàn cây: ép lấy nước, nấu trong dầu dùng làm thuốc thoa trị phong thấp, phong cùi; Lá nấu lấy nước đắp vết thương lở loét.

Vài nghiên cứu về Excoecaria agallocha :
Các hoạt chất loại diterpenes (17 loại đã được ly trích từ gỗ Excoecaria) đã được thử nghiệm Tại Đại Học Dược Kyoto (Nhật) về tác dụng chống u-bướu trong đó chất đáng chú ý nhất là ent-3betahydroxy-15-beyeren-2-one có khả năng ức chế siêu vi Epstein-Barr rất mạnh, và chống bướu gây ra bởi 7,12 dimethylbenz[a] -anthracene (DMBA) thử nơi chuột (Biol Pharm Bull Dec/2001)

Tài liệu sử dụng :
Chinese Herbal Medicine Materia Medica (D Bensky)
Oriental Materia Medica (Hsu)
Từ điển Cây Thuốc Việt Nam (Võ Văn Chi)
Y-Học Thường thức Số 38, Tháng 5-6/2000
Medicinal Plants of India (SK Jain & R. DeFillipps)

Công dụng kỳ diệu của trầm hương, kỳ nam .

http://vnexpress.net/GL/Doi-song/2006/09/3B9EE1EC/

Trầm hương. Ảnh: Thanh Niên.
Trầm hương được Đông y coi là một vị thuốc rất quý. Trầm giúp bổ dương, bổ thận khí, chữa yếu sinh lý ở đàn ông, trợ tim, trị tiêu chảy, chống nôn...

Theo lương y Huỳnh Văn Quang ở TP HCM, trầm hương, kỳ hương (kỳ nam) từ gỗ thân già mục của cây trầm gió chuyển hóa mà thành; hoặc do một loại nấm gây nhiễm mục nát thân cây trầm gió rồi chuyển hóa tạo nên.

Cũng có giả thuyết cho rằng, thân cây gió bị bọng, những con ong, con kiến làm tổ ở đó, đưa mật về ăn. Hương mật ấy ngấm vào thịt của cây gió lâu ngày mà kết thành kỳ nam.

Đông y phân loại trầm tốt xấu bằng cách: Nếu cho vào nước, trầm chìm xuống tận đáy là trầm tốt nhất; bỏ vào nước mà lơ lửng, không chìm, không nổi là trầm loại 2; còn trầm loại 3 là loại nổi trên mặt nước. Đông y thường dùng trầm loại 2 làm thuốc (vì loại 1 có giá rất cao).

Kỳ hương được phân ra làm những loại: hắc kỳ (có màu đen, là loại đắt tiền nhất); thanh kỳ (màu xanh xanh, còn gọi là hoàng kỳ) và bạch kỳ (màu trắng đục). Trầm loại tốt có sắc đen, bóng, nặng trịch như khối sắt. Kỳ cũng nặng vậy, nhưng thường có tinh dầu rịn ra bên ngoài ươn ướt. Trên thị trường, có khi người ta giả trầm "xịn" bằng cách, lấy trầm loại 3 khoan một lỗ thật sâu chế chì vào trong đó và bít lại, rồi xoa tinh dầu trầm, đánh bóng. Không rành rất khó mà nhận biết.

Công dụng của trầm - kỳ

Trầm - kỳ có mùi thơm hơi hắc, đặc biệt khi đốt sẽ cho mùi thơm tinh dầu trầm không thể lẫn lộn với một loại hương thơm nào khác. Những vật phẩm chế tác từ kỳ có hương thơm gần như là mãi mãi. Có những đồ trang sức người ta làm từ kỳ nam đeo vài chục năm vẫn còn tỏa hương thơm.

Theo lương y Huỳnh Văn Quang, tinh dầu thơm của trầm - kỳ phối với tinh dầu xạ hương (lấy từ túi thơm của con cầy hương) sẽ tạo ra một mùi hương rất đặc biệt, rất mạnh và quyến rũ. Tùy theo tỷ lệ pha chế giữa trầm - kỳ và xạ hương mà hương thơm được tạo ra sẽ có sức quyến rũ giới tính. Nếu tỷ lệ tinh dầu trầm - kỳ chiếm 85% thì hương thơm này dùng cho phái nam, vì nó cực kỳ quyến rũ phái nữ. Với tỷ lệ pha trộn ngược lại (kỳ - trầm chỉ chiếm 15%), thì hương thơm phối trộn tạo ra sẽ dành cho nữ giới, vì nó có sức lôi kéo phái nam.

Trong Đông y, người ta thường dùng trầm để làm thuốc hơn là kỳ, bởi kỳ quá hiếm và đắt tiền. Trầm có vị đắng, khí giáng xuống (chìm xuống). Còn kỳ thì có vị ngọt, khí bốc lên. Trầm giúp bổ nguyên dương, bổ thận khí, trợ sức cho công năng của tỳ thận. Ngoài ra, nó còn có tác dụng trợ tim, mạnh tim, lợi tiêu hóa, trị tiêu chảy, chống nôn; tác dụng rất hay trong trường hợp hen suyễn thở dốc. Người có chứng âm hư hỏa vượng (đang sốt, khô gầy) tuyệt đối không được dùng trầm.

Kỳ nam chữa tiểu không cầm được, giúp giao hợp được lâu, rất hay trong điều trị các bệnh tiêu hóa như: đau do hơi dồn tức trong bụng, đau bụng tiêu chảy thể tả. Thường không cho chung kỳ nam với các vị thuốc khác, cũng như không qua đun nấu mà dùng bằng cách mài ra rồi uống. Người ta còn dùng kỳ nam trích tinh dầu để pha chế các loại nước hoa; làm vòng đeo tay, hạt chuỗi vừa để trang sức (hương thơm lưu giữ hằng mấy chục năm) vừa có công dụng trị gió, tránh được cảm mạo.

Một số bài thuốc:

Trị chứng xúc động mạnh gây khó thở: Bột trầm hương và nhân sâm (mỗi thứ 2 chỉ), đem hãm với một chén nước sôi khoảng 10 phút, lấy nước để uống. Phương thuốc này rất hiệu nghiệm trong trường hợp bị xúc động mạnh, khí nghịch lên trên gây khó thở.

Trị chứng nấc, nôn ói: Bột trầm hương, nhục đậu khấu, hạt tía tô (mỗi thứ 2 chỉ). Cách chế biến cũng đem hãm như trên rồi lấy nước uống, có tác dụng trị chứng nấc, nôn ói do bị lạnh, khí nghịch.

Hỗ trợ nam giới: Bột trầm hương, nhân sâm, quế nhục, ngũ vị tử và chích thảo (cam thảo đã sao) đem hãm với nước sôi để uống. Bài này dùng cho những trường hợp nam giới bị lạnh ở bụng dưới; tay, chân thường xuyên lạnh; khả năng sinh dục bị suy yếu.

(Theo Thanh Niên)

Sự thật về trầm hương và kỳ nam.

http://tintuc.xalo.vn/00350800026/su_that_ve_tram_huong_va_ky_nam.html
Phó giáo sư (PGS) Đinh Xuân Bá là người nghiên cứu rất kỹ về trầm hương, kỳ nam. Ông là người đã và đang triển khai nghiên cứu hàng loạt đề tài khoa học về trầm, kỳ cấp Nhà nước. Ông cũng là người đi tiên phong trong việc trồng cây dó bầu lấy trầm và hiện tại ông đang phát triển trang trại rộng hàng trăm hécta, toàn giống cây dó bầu cho chất lượng trầm tốt ở Hương Sơn (Hà Tĩnh).

Trầm hương là gì?

Những nhà nghiên cứu, sản xuất trầm, kỳ ở nước ngoài thì không lạ gì cái tên Đinh Xuân Bá. Ông rất ít xuất hiện trước báo giới, vả lại hầu như ông chỉ làm việc với giới hiểu biết về trầm, kỳ ở nước ngoài mà thôi.

Ông là người Việt Nam đầu tiên lập trang web giới thiệu về trầm, kỳ và những sáng chế của ông trong việc chiết xuất, sử dụng loại hương liệu quý này từ khi Việt Nam còn chưa có Internet. Trang web của ông được lập ở nước ngoài và toàn bộ thông tin đều bằng tiếng Anh, vì thế, người nước ngoài biết về ông nhiều hơn người Việt Nam cũng dễ hiểu.

Những cuộc hội thảo lớn về trầm, kỳ trên thế giới người ta đều mời ông với tư cách nhà khoa học, và ông cũng đã được đến hầu hết những nơi sản xuất, nghiên cứu, chế biến trầm, kỳ cũng như những thị trường tiêu thụ lớn nên không gì có thể phủ nhận khả năng và sự hiểu biết sâu sắc của vị PGS này về trầm, kỳ.

Trong căn phòng nhỏ, bừa bộn những loại máy móc chiết xuất, chế biến trầm, kỳ, rất nhiều khúc gỗ có chứa tinh dầu trầm bày biện trên mặt tủ, cùng vô vàn chai lọ chứa tinh dầu trầm. Ngôi nhà 59 Hàng Chuối, Hà Nội, lúc nào cũng thoảng mùi trầm.

PGS Đinh Xuân Bá tỏ ra bức xúc khi rất nhiều báo chí liên tục viết về trầm, kỳ, kể cả dẫn lời phát biểu của những nhà khoa học, song đều thiếu chính xác, cảm tính, nghe theo lời đồn của cả trong nước và trên các trang web quốc tế.


Một khối trầm hương bày bán ở Thái Lan.

Theo ông Bá, trầm, kỳ không có giá trị “khủng khiếp” và tác dụng huyền bí như một số báo chí vẫn nêu. Sau khi dự hội thảo quốc tế về trầm hương ở Thuỵ Sĩ, ông đã quyết định lên tiếng khẳng định giá trị thực của trầm hương để người dân cả nước được biết, cảnh giác trước các trò lừa đảo của giới buôn bán trầm, kỳ.
Theo PGS Đinh Xuân Bá, có tới 28 loài thuộc chi Aquilaria có thể cho trầm. Những loài này có mặt ở 15 nước trên thế giới. Riêng Việt Nam có 6 loài. Aquilaria Crassna là loài quý nhất trong nhóm, chỉ có mặt ở 4 nước, trong đó Việt Nam có nhiều nhất và quý nhất. Sở dĩ loài Crassna quý nhất là vì nó sản sinh ra trầm tốt, mà người đời vẫn gọi bằng cái tên khác là kỳ nam.

Những loại cây dó bầu cho trầm, kỳ mọc tập trung ở những vùng núi hướng ra phía có gió biển, do vậy trầm xuất hiện nhiều ở Đông Trường Sơn hơn là Tây Trường Sơn. Trầm, kỳ là sản vật của vùng Bình Trị Thiên, Phú Yên, Khánh Hoà, Lâm Đồng và đảo Phú Quốc cũng có.

Hầu hết các nhà khoa học đều cho rằng trầm, kỳ hình thành bởi cây dó tiết ra nhựa nhằm tiêu diệt côn trùng và các loại nấm để bảo vệ vết thương. Quá trình này diễn ra rất chậm, từ 50 năm đến hàng thế kỷ. Một số ý kiến khác thì cho rằng, do thân cây dó bị bọng, loài ong, kiến làm tổ ở đó, tha mật về ăn. Hương mật ngấm vào thịt cây dó lâu ngày rồi hoà trộn với nhựa cây mà kết thành trầm hương, kỳ nam.

Lại có ý kiến cho rằng, trầm kỳ là sản phẩm đặc biệt được hình thành từ lõi cây dó bầu do việc tích tụ tinh dầu. Việc cây dó tạo trầm như thế nào vẫn là điều bí hiểm, cần có quá trình nghiên cứu lâu dài để khám phá, tuy nhiên, theo PGS Đinh Xuân Bá, qua nghiên cứu tài liệu từ các nhà khoa học đầu ngành về trầm, kỳ ở nước ngoài thì nhiều khả năng trầm là một bệnh phẩm hay sản phẩm của sự nhiễm bệnh, nói cách khác, nó là sản phẩm của phản ứng tự vệ của cây chống lại sự nhiễm bệnh.

Sự hình thành trầm phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: loài cây dó, thổ nhưỡng và thảm thực vật nơi cây dó sống, cây bị thương tích do sâu bọ đục lỗ hoặc do con người gây ra như khoan lỗ, cây bị nhiễm vi khuẩn, nấm mốc hoặc các loài ký sinh trên gỗ và đặc biệt là năng lực tạo ra phản ứng miễn dịch của cây dó...

Chính vì có nhiều yếu tố tác động mới khiến cây dó hình thành trầm hương trong điều kiện tự nhiên, không phải cây dó nào cũng cho trầm, kỳ mà hàng trăm, hàng ngàn cây mới có một cây cho trầm mà thôi.

Chính việc nắm được quá trình hình thành trầm, kỳ mà ở một số nước như Thái Lan, Malaysia, Ấn Độ, Nhật Bản... người ta trồng cây dó bầu rồi đục thân, tiêm vi trùng, nấm vào để tạo trầm nhanh chóng (phương pháp này được ông Bá gọi là kích cảm).

Thậm chí, các nhà khoa học Nhật Bản tại Trường đại học Kyoto đã dùng Methyl Jasmonate và Jasmonic acid (chất giúp tăng cường năng lực tự vệ của cây) tác động lên các tế bào của cây dó theo phương pháp nuôi cấy treo có thể tạo ra các chất chính của trầm hương chỉ trong vòng 7 ngày.

Theo những người chuyên “ngậm ngải tìm trầm” thì giả thuyết về khả năng tự vệ của cây dó sinh ra trầm sát với thực tế hơn cả. Bởi vì, kinh nghiệm đi rừng tìm trầm cho thấy, những cây dó bầu nào cao 30-50m, lá đã vàng và nhỏ dần, thân cây có nhiều u bướu như những tổ kiến hoặc gốc có gò mối đóng thì cây dó đó có thể cho trầm hoặc kỳ. Khi gặp những cây dó như thế thì phải hạ cây, trốc cả rễ và xả nát ra tìm vì trầm có thể kết ở rễ, gốc, thân, thậm chí ở tận ngọn cây.

Cũng theo những người tìm trầm, thời gian gần đây dễ kiếm được trầm hơn trước kia vì trong thời gian chiến tranh, những mảnh bom đạn đã ghim vào thân cây dó và trong quá trình kích thích dài tới vài chục năm, đến nay cây dó đã cho nhựa trầm.

Qua đây cũng xin giải thích để bạn đọc hiểu nội dung của từ “ngậm ngải tìm trầm” mà báo chí cũng như giới tìm kiếm, buôn bán trầm hương thường dùng.

Cây dó là loài thường mọc trong rừng sâu, núi cao, những nơi hiểm trở và xen lẫn với những loài cây khác nên rất khó tìm. Hơn nữa, hàng trăm, hàng ngàn cây dó mới có một cây cho trầm nên người ta phải luồn rừng hết ngày này tháng khác trong rừng để tìm kiếm.

Quá trình đi rừng dài ngày như thế, lương thực mang theo không thể đáp ứng được nhu cầu, nên khi hết lương thực, người đi rừng phải đào củ ngải, một loại riềng dại, có vị thơm dịu để ngậm, làm cho ruột đỡ cồn cào trong quá trình tìm đường về.

Vì cuộc hành trình dài ngày, vất vả nên khi trở về, người tìm trầm thường hốc hác, râu tóc xồm xoàm, quần áo rách mướp, trông chẳng khác gì người rừng, nên người đời thường tưởng tượng ra cảnh ngậm ngải tìm trầm lâu ngày sẽ biến thành người rừng. Cụm từ “ngậm ngải tìm trầm” chỉ sự vất vả, nhọc nhằn của những người đi khai thác trầm trong rừng sâu.

Quá trình tìm trầm cũng được huyễn hoặc hoá và được giới tìm trầm rất tin. Người ta tin rằng, chỉ có người sống lương thiện thì mới gặp được Thiên Y Ana, là hoá thân của trầm, kỳ. Chính vì vậy, trước khi xuất hành vào rừng, người ta phải ăn chay 3 ngày, tránh chung đụng với đàn bà, xuất hành vào ngày đẹp, giờ đẹp và trong quá trình đi rừng không được có ý nghĩ ám muội, gây gổ, đánh nhau...

Khi tìm thấy cây dó bầu có biểu hiện cho trầm thì phải nhịn đói để giữ mình tinh khiết, tìm đến suối tắm rửa sạch sẽ rồi cúng vái thần rừng để tạ ơn trước khi đốn hạ cây dó bầu tìm trầm.

Kỳ nam, Trầm hương và công dụng.

http://tuoitre.vn/Chinh-tri-xa-hoi/Khoa-hoc-moi-truong/159942/Ky-nam-va-Tram%C2%A0huong%C2%A0.html


Lá và quả cây Gió
Kỳ Nam và Trầm hương là sản phẩm đặc biệt nằm trong lõi của cây Gió. Ở Campuchia, cây Gió có tên là Can Krasna (Can, cannada: Trầm, Krasna: sẫm). Có lẽ từ âm ấy mà có tên khoa học bằng tiếng La tinh.
+ Tên khoa học : Aquilaria Crasna Pierre

+ Họ: Thymeleaceae

+ Bộ: Thyméales

+ Lớp: Song-tử-diệp

+ Ngành: Hiển hoa (bí tử)

Cây Gió là một loài đại mộc có thể cao 40-50 mét, vỏ màu xám có nhiều sợi có thể làm giấy được, gỗ mềm màu trắng. Lá không lông có 15-18 cặp gân. Trái là nang dài 4cm.

Quá trình tạo thành Trầm hương và Kỳ nam

Không phải bất kỳ thân cây Gió nào cũng có Trầm hương và Kỳ nam. Chỉ một số cây Gió có bệnh mới chứa Trầm ở phần lõi của thân. ở phần này, nếu quan sát kỹ qua độ phóng đại của kính lúp, ta thấy các tế bào gỗ thoái hóa, biến dạng, mất mộc tố, chứa một chất nhựa thơm (tinh dầu), biến thành những khối hình thể không đều, lồi lõm, có rãnh dọc, trong trong, màu sậm; đó là Kỳ nam (Bois d'aloès). Chung quanh Kỳ nam gỗ cũng biến chất ít nhiều, đó là Tóc (do chữ Camphuchia là Tok); khi đốt cháy Tóc tỏa ra mùi thơm, thường dùng để làm nhang nên gọi là Trầm hương (Bois d'aigle).

Trầm và Kỳ nam đều ở lõi cây Gió do tích tụ nhiều hay ít tinh dầu, cho nên nếu không sành sỏi dễ bị nhầm lẫn khi mua. Muốn phân biệt hai thứ ấy ta phải xem kỹ tính chất và khí vị của chúng: Gỗ Kỳ nam nặng và nhuyễn, có đủ vị cay, chua, đắng, ngọt, thơm tho. Nó tích chứa nhiều tinh dầu nên khi cháy cho ngọn màu xanh, khói lên thẳng và cao, bay lờ lững trong không khí rất lâu.

Gỗ Trầm hương nhẹ hơn, có vị cay, hơi đắng, mùi thơm nhẹ nhàng. Khi đốt cháy Trầm hương bốc khói lên hình vòng rồi tan biến nhanh trong không khí.

Muốn phân biệt Kỳ nam tốt xấu thì người ta quan sát loại nào có sớ nhuyễn mịn, có nhiều tinh dầu là tốt, còn loại nào rắn chắc và ít dầu là xấu. Người ta thường gói Kỳ nam trong lá chuối thật kín rồi đem phơi nắng, đến tối đem vào nếu có nhiều chất dầu chảy ra là tốt. Muốn giữ Kỳ nam được tốt và lâu thì nên bọc vào giấy thiếc hoặc bỏ vào hộp có nắp đậy kín để tinh dầu khỏi bay hơi hoặc chảy bớt.

Một số người thường lấy gỗ cây Sơn già (Exoecaria agallocha, Linné, thuộc họ Euphorbiaceae) để bán giả Trầm hương. Ở cây Sơn già nặng và rất cứng, có màu nâu đỏ, có chấm đen hoặc xám, vị đắng, có mùi thơm dễ chịu, nên một số người Ấn Độ hoặc Trung Quốc vẫn thường đốt để xông hương trong nhà cho thơm. Theo Petelot thì đó là một sự sai lầm vì trong gỗ Agallocha có chứa một chất nhựa có tính độc làm hại đến sức khỏe của con người.

Theo kinh nghiệm của những người "đi điệu" (tìm trầm) cho hay, khi nào gặp những cây Gió cao 30-40 mét trở lên, lá đã vàng và nhỏ dần dần, thân cây có nhiều u bướu như những tổ kến hoặc gốc có gò mối đóng thì cây Gió đó có Kỳ nam. Khi gặp cây Gió như vậy họ phải hạ cây, đào tận rễ để tìm, vì Kỳ nam có thể nằm trên ngọn, ở thân hoặc ở rễ. Khi gặp những cây Gió còn non thì người ta thường dùng dao lụi vào thân cây thành những vết thương và theo dõi nhiều năm sau để lấy Trầm - Kỳ.

Người ta cho rằng khi bị thương, cây sẽ tích tụ nhựa đến đây để băng bó xem như là khả năng tự đề kháng để chống bệnh nên tạo ra Trầm - Kỳ. Theo nhận xét của những người "đi điệu" lão thành thì dạo này đi rừng dễ gặp Trầm kỳ hơn trước kia, có lẽ trong thời gian chiến tranh những mảnh bom đạn đã ghim vào thân cây Gió nên kích thích tạo ra Trầm - Kỳ. Cũng có thể vì vậy mà sau ngày giải phóng có nhiều người đi rừng gặp Trầm và Kỳ nam.

Năm 1977, Julaluodin đã tìm thấy trong vùng Tóc của cây Gió có chứa một loại nấm Cryptosphaeria mangifera. Ông đã thử nghiệm bằng cách cấy những nấm ấy vào thân những cây Gió lành mạnh. Sau một thời gian thì vùng nhiễm khuẩn trở nên sậm màu và biến thành Tóc rõ rệt vì khi đốt tỏa ra mùi trầm.

Phải chăng khi bị thương tích hoặc khi bị nhiễm bệnh ở một vùng nào đó, cây tích tụ nhựa đến để tự băng bó hoặc để tự đề kháng nên đã tạo thành Trầm hương và Kỳ nam.

Những cây Gió mọc trong rừng rậm trùng trùng điệp điệp xen lẫn với những loại cây điệp loại khác nên rất khó tìm kiếm, mà một khi kiếm được cây Gió cũng chắc gì đã có Trầm và Kỳ nam, thành thử nhiều người "đi điệu" phải luồn rừng từ tháng này sang tháng khác để tìm kiếm. Ngoài lương thực tươi mang đi bỏ đầy "ruột tượng" để mang theo người, ăn cầm chừng cho đỡ đói trong lúc đi rừng dài ngày. Có nhiều khi hết lương thực, lúc đi lạc trong rừng, người "đi điệu" phải ngậm củ Ngải (Galanga cyrcuma), một loại riềng dại, có vị thơm dịu làm cho ruột đỡ cồn cào trong lúc tìm đường về.

Vì cuộc hành trình dài ngày và đầy gian lao vất vả nên người "ăn trầm" khi trở về thường hốc hác, râu tóc xồm xoàm, áo quần rách bươm chẳng khác gì dã nhân nên nhiều người đã tưởng tượng ra cảnh "ngậm ngải tìm trầm lâu ngày biến thành người rừng". Việc ngậm ngải cũng không phải để làm cho dã thú tránh xa như một vài người lầm tưởng, vì những người "đi điệu" thường mang theo roi mây hoặc roi dâu, thỉnh thoảng quất vào không khí thành những tiếng xé kêu "trót, trót", chính những âm thanh ấy làm cho cọp beo tránh xa cũng như tiếng roi da của người dạy thú trong gánh xiếc làm cho voi cọp phải gườm.

Không phải ai "đi điệu" cũng kiếm được Trầm, có người kiếm được có người không, nên giới "ăn trầm" thường tin dị đoan rằng những kẻ lương thiện mới được Thiên Y Ana (hóa thân của cây Trầm, Kỳ nam) cho gặp. Vì vậy trước khi đi rừng tìm kiếm, kẻ "đi điệu" phải xem ngày lành tháng tốt để xuất hành, trước đó phải ăn chay 3 ngày, tránh chung đụng với đàn bà, trong khi đi rừng không được có ý nghĩ ám muội, không được nói chuyện cà rỡn, không gây gổ nhau... Đến khi gặp được cây trầm thì người đó phải nhịn đói để giữ mình tinh khiết, tìm đến suối gần đó để tắm rửa cho sạch sẽ, rồi lập đàn thờ cúng vái tạ ơn thần Rừng trước khi hạ cây Gió để tìm lõi Trầm kỳ.

Công dụng của Trầm hương và Kỳ nam

Trầm hương và Kỳ nam của ta rất có giá trị trên thị trường quốc tế, nhất là đối với Trung Quốc. Đài Loan, Hồng Kông, Nhật Bản. Đó là những hương liệu quý giá trong việc điều chế các loại nước hoa hảo hạng như Santal, Nuit d'Orient..., một số xà phòng tắm và nhất là nhang trầm.

Sở dĩ Trầm và Kỳ nam có giá trị cao là vì có công dụng chữa bệnh rất tốt trong Đông y:

- Trừ sơn lam chướng khí: Người ta thường xông trầm trong nhà để trừ khí độc và thường mang Kỳ nam trong người để ngừa sơn lam chướng khí. ở một vài vùng, nhất là vùng Phú Khánh, người ta thường bọc Kỳ nam trong túi vải thưa để đeo ở cổ xem như "bùa hộ mệnh". Trẻ em dưới 1 tuổi đeo 2 chỉ, 1 đến 5 tuổi đeo 3 chỉ, người lớn đeo 5 chỉ.

- Dùng làm thuốc giải nhiệt và trừ sốt rét: ở Campuchia, theo các bác sĩ Menaut và Phana Douk, người ta thường dùng Kỳ nam, Trầm và ngà voi mài với nước lạnh để uống. Ngày 2-3 lần, mỗi lần uống từ 3 phân tới 1 chỉ.

- Thuốc trừ đau bụng: Theo bác sĩ Sallet ghi nhận thì thuốc Nam có toa thuốc trị đau bụng rất hay gồm: Trầm hương 2 chỉ, sắc cùng Đậu khấu, hạt cau, vỏ cây Mộc lan, Sa nhơn, Can khương... trong 2 chén rưỡi nước còn lại 9 phân chia uống thành 2 lần trong ngày sẽ làm cho bụng hết quặn đau.

- Chữa bệnh đường tiểu tiện: Người ta thường mang Trầm kỳ ở vùng hội âm để chữa bệnh đường tiểu tiện.

- Theo Đông y, Kỳ nam dùng để trị các chứng độc thủy do phong thổ gây nên, làm tiêu chứng chướng mãn, no hơi, đau bụng, ói mửa, hen suyễn thở gấp, hạ được nghịch khí, thông chứng bế do khí hư gây nên. Mài từ 3 phân tới 1 chỉ, tùy theo tuổi lớn nhỏ hòa với nước lạnh hoặc bỏ vào nước đun sôi mà uống.

- Chống chỉ định:

+ Trầm kỳ là thuốc trụy thai, nên đàn bà có thai không nên uống hoặc mang trong mình, có thể làm sảy thai.

+ Những người suy nhược và biếng ăn, suy gan... không nên dùng Trầm - Kỳ.

- Tương khắc trầm kỳ có tính kỵ hỏa, thành thử không nên uống chung Trầm - Kỳ với những loại thuốc có tính chất thuộc hành hỏa tính theo âm dương ngũ hành.

Phân bố địa lý của cây Trầm - Kỳ

Trầm kỳ thường tìm thấy trong những cây Gió mọc ở những vùng núi hướng về phía có gió biển nên ta thường gặp ở vùng phía Đông Trường Sơn hơn là Tây Trường Sơn.

Ở Đông Dương, Trầm kỳ có nhiều ở Campuchia và Việt Nam.

Riêng ở Việt Nam, ít tìm thấy Trầm kỳ ở phía trên vĩ tuyến 17.

- Ở Bình Trị Thiên thường tìm thấy ở vùng Cam Lộ của Quảng Trị, vùng A Sao, A Lưới, vùng Thanh Sơn. Ồ ồ và vùng đèo Hải vân thuộc Thừa Thiên.

- Ở Bình Định có từ vùng núi Quy Nhơn đi vào.

- Ở Khánh Hoà. Phú Yên có rất nhiều tại Vạn Giã, Tân Định, An Thành, Bình Khang, Duyên Khánh...

- Ở Bình Thuận có ở vùng núi giáp ranh với Lâm Đồng.

- Ở Lâm Đồng ta có thể tìm thấy Trầm kỳ ở các núi giáp ranh với Bình Thuận.

- Ở các hải đảo thì gặp nhiều Trầm - Kỳ tại Phú Quốc.

Năm 1973, tôi đã hướng dẫn một số sinh viên theo học chứng chỉ Thực vật 2 thuộc trường Đại học Đà Lạt, theo đường Tà In vào Tà Nhiên, đến Sa Mai, Thác Thiêng... tìm đến được một khu rừng có nhiều cây Gió. Ở đó chúng tôi đã được một cụ già "đi điệu" người Chàm hướng dẫn đi xem rừng và đã được cụ cho xem những mẫu Trầm hương và Kỳ nam đã thu được ở vùng này và vùng núi đi dọc giữa Di Linh và Phan Thiết. Chúng tôi nhìn thấy Trầm ở đây tốt chẳng khác gì Trầm hương ở Quảng Trị và Kỳ nam ở đây chũng gần bằng Kỳ nam vùng Khánh Hoà, Phú Yên.

Như vậy Lâm Đồng ngoài những rừng thông bát ngát có trữ lượng lớn để cung cấp gỗ thông, bột giấy và tùng hương, còn có triển vọng khai thác được Trầm kỳ là một mặt hàng xuất khẩu có giá trị rất cao trên thị trường quốc tế.

Muốn được sản lượng lớn, ngay từ bây giờ phải có kế hoạch ngăn cản không để cho nhân dân hạ cây Gió một cách bừa bãi, đồng thời trồng thêm nhiều cây Gió và cho nhiễm khuẩn để tạo thành Trầm và Kỳ nam do ta chủ động để khỏi đi tìm kiếm vẩn vơ trong rừng rậm như những người "đi điệu" trước đây.

TÔN THẤT SAM

Nguồn: Thông tin khoa học, công nghệ